Monday, 23/09/2019 - 05:19|
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA - Điện thoại: 02373.852328
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa sau 50 năm thực hiện di chúc bác Hồ

[1] Năm 1981, được Bộ GD&ĐT công nhận hoàn thành chỉ tiêu phổ cập cấp 1 bổ túc văn hóa cho nhân dân trong độ tuổi ở miền xuôi. Từ năm 1982 tập trung xóa mù chữ ở miên núi; năm 1990 đã có 2/3 số xã trong toàn tỉnh, 15 huyện miền xuôi hoàn thành phổ cập cấp 1; năm 1995, có 18/25 đơn vị cấp huyện, 568 cấp xã đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dc tiểu học - xóa mù chữ. Năm 1997, được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học - xóa mù chữ. Năm 2004, được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 1. Năm 2006, được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS. Năm 2015, hoàn thành phổ cập giáo dục Mầm non trẻ em 5 tuổi. Năm 2016, được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2. Năm 2019, toàn tỉnh được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 (mức độ cao nhất).

[1] Năm 1945, tỉnh Thanh Hóa, chưa người nào có trình độ đại học. Năm học 1974 -1975, trình độ văn hóa của cán bộ cấp tỉnh: trưởng ty, trưởng ban, phó ty, phó ban, trình độ văn hóa lớp 10/10, chiếm 23,8%, trình độ đại học là 7,10%; phó ty, phó ban, trưởng, phó phòng ty, trình độ lớp 10, chiếm 24,0%; đại học 8,05%. Năm học 1994 -1995, số cán bộ chủ chốt hầu hết có trình độ đại học. Năm học 2017 - 2018, số cán bộ, giáo viên có trình độ đạt chuẩn trở lên là 43.780 người, chiếm  99,97%, trong đó trên chuẩn 33.241 người, chiếm 75,91%.

[1]“Kháng chiến thành công, thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cũng cố gắng làm cho các cháu đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành”(Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, 2002, tr.56).

[1] Giai đoạn 1975-1985, tỉ lệ huy động các cháu trong độ tuổi ra lớp tăng dần, từ 20% - 30%; 40% - 60%; 72% - 80%, trong đó trẻ 5 tuổi ra lớp đạt tỉ lệ ngày càng cao. Năm 1991, đạt tỉ lệ 87%. Năm 2005, đạt 90%; năm 2015 đạt 99,6%. Năm 2019, các cháu nhà trẻ ra lớp đạt tỉ lệ 26,5%; mẫu giáo ra lớp đạt 96,1%, trong đó trẻ 5 tuổi ra học lớp mẫu giáo đạt 99,8%.

[1] Năm 1975, đạt 23,9%; năm 1985, đạt 21%, năm 1995 đạt 22,32%. Năm 2019, học sinh 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,9%; trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt 95,78%; học sinh vào lớp 6 đạt 99,75%; học sinh vào lớp 10 đạt 98,9% so với kế hoạch giao.

[1] Năm học 1964 - 1965, toàn tỉnh có 826 trường với 234.758 học sinh phổ thông. Năm học 1974 -1975, có 1.804 trường với 526.925 học sinh phổ thông. Năm học 1994 -1995, có 1.763 trường học, gần 750.000 HSSV. Năm 2019, giáo dục Thanh Hóa có 2.106 trường học, với 850.000 học sinh, trong đó mầm non: 681 trường, tiểu học: 649 trường, THCS: 592 trường, THPT: 94 trường; tiểu học và THCS: 51 trường, THCS và THPT: 09 trường; tiểu học, THCS& THPT: 01 trường; TTGDNN-GDTX huyện, thị, TP: 27; 01 TTGDTX tỉnh,  01 TT Kĩ thuật Tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh; 2 trường đại học trực thuộc tỉnh; 03 phân hiệu trường đại học trung ương đóng trên địa bàn; 17 trường cao đẳng và TCCN; 635 Trung tâm HTCĐ xã, phường, thị trấn.

[1] Giáo dục Tiểu học, tỉ lệ học sinh được đánh giá Hoàn thành và Hoàn thành tốt, đạt 98,75% trở lên; tỉ lệ học sinh được đánh giá Đạt và Tốt đối với từng năng lực, phẩm chất đạt 99,3% trở lên. Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THPT luôn đạt trên 90%: Năm 2015, đạt 92%; năm 2016 đạt 96,89%; năm 2017 đạt 97,43%; năm 2018 đạt 97,46%; năm 2019 đạt 92,39%.

[1] Năm học 2017-2018, đạt 64 giải, trong đó có 6 giải nhất; năm học 2018-2019, đạt 65 giải, trong đó có 7 giải nhất.

[1] Từ năm 1984 đến năm 2018, đoạt 42 huy chương, trong đó 9 huy chương Vàng, 16 huy chương Bạc, 17 huy chương Đồng. Riêng từ năm 2008 - 2019, đoạt 10 huy chương Vàng. Năm học 2017 - 2018, đoạt huy chương Olympic quốc tế và khu vực Châu á Thái Bình Dương cao nhất từ trước đến nay (3 HCV, 2 HCB, 1 HCĐ). Năm học 2018 - 2019, Thanh Hóa đoạt 5 huy chương, trong đó 3 HCV, 1 HCB, 1 HCĐ.

[1]Năm học 1945-1946, toàn tỉnh có 210 cán bộ, giáo viên, nhân viên; Năm học 1955-1956, toàn tỉnh có gần 2000 cán bộ, giáo viên, nhân viên; Năm học 1975-1976, toàn tỉnh có 18.374 cán bộ, giáo viên, nhân viên; Năm học 1985-1986, toàn tỉnh có gần 25.000 cán bộ, giáo viên, nhân viên; Năm học 1994-1995, toàn tỉnh có gần 30.000 cán bộ, giáo viên, nhân viên; Năm học 2018 - 2019, toàn tỉnh có 50.031 cán bộ, giáo viên, nhân viên.

Năm học 1945-1946, cả tỉnh chưa có một giáo viên đạt trình độ đại học; Năm học 1954-1955, có trên 20 người có trình độ đại học; Năm học 1964-1965 có 232 người có trình độ đại học; Năm 1973-1974 có 1016 người có trình độ đại học; Năm học 1994 - 1995 có 3.921 người có trình độ đại học, 5.967 người có trình độ cao đẳng, có 226 người có trình độ trên đại học.; Năm học 2018-2019, tỷ lệ cán bộ, giáo viên đạt chuẩn 99,97%, trong đó trên chuẩn 76,1%.

[1]Các quỹ khuyến học, khuyến tài cấp tỉnh, hàng năm đã trao thưởng từ 4-5 tỷ đồng cho học sinh đạt giải quốc gia, quốc tế, học sinh đạt giải nhất cấp tỉnh các môn văn hóa, học sinh đạt điểm thủ khoa vào các trường đại học; học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn vươn lên học giỏi.

 

[1]Năm 1990, toàn tỉnh có 112 phòng học kiên cố; 28 phòng học cao tầng; Năm 1993, toàn tỉnh có 238 phòng học kiên cố; 100 phòng học cao tầng; Năm 1995, toàn tỉnh có 31 trường học kiên cố; 47 trường học cao tầng; Năm 2019, toàn tỉnh có 22.771/26.024 phòng học kiên cố, cao tầng (đạt tỷ lệ 87,5%). Năm 2008, toàn tỉnh có 582 trường đạt chuẩn quốc gia (mầm non 111 trường, tiểu học có 382 trường, THCS có 81 trường, THPT có 8 trường); Năm 2019, toàn tỉnh có 1.432/2.077 trường học đạt chuẩn quốc gia (đạt tỉ lệ 68,9%).

[1]Đại học Hồng Đức, Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cơ sở Thanh Hóa, Phân hiệu Đại học Y Hà Nội tại Thanh Hóa, Phân hiệu Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội tại Thanh Hóa.

[1]6 trường cao đẳng nghề, 17 trường trung cấp nghề, 18 trung tâm dạy nghề và 61 cơ sở có đăng ký hoạt động dạy nghề theo quy định.

[1]Đại học Hồng Đức, với 35 ngành đại học, 18 ngành bậc cao đẳng, 17 chuyên ngành thạc sĩ, 4 chuyên ngành tiến sĩ; Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch, với 1 ngành thạc sĩ, 17 ngành đại học,...

[1] Đại học Hồng Đức liên kết với Đại học Soongsil (Hàn Quốc) trong đào tạo thạc sĩ ngành quản trị kinh doanh; với Đại học Zielona Gora (Ba Lan) đào tạo đại học ngành Vật lý ứng dụng và công nghệ; Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch hợp tác với các trường đại học ở Ba Lan, Phi-líp-pin, Thái Lan, Thụy Sĩ, Ma-lai-xi-a,... trong đào tạo giảng viên, sinh viên.

[1]- 03 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ đổi mới: Trường THPT chuyên Lam Sơn; Trường THPT Ba Đình (Nga Sơn); Trường Mầm non Tân Sơn (TP Thanh Hóa).

- Trường cấp 1 Pù Nhi (Quan Hóa), nay là huyện Mường Lát “Điển hình đặc sắc của sự thực hiện phương châm phát triển giáo dục miền núi”, Trường Tiểu học Hải Nhân (Tĩnh Gia) “Mười năm giữ vững ngọn cờ đầu trong giáo dục phổ thông cấp 1 toàn miền Bắc”. 

- 05 đơn vị được tặng Huân chương Độc lập (HC Độc lập hạng Nhì: Sở GD&ĐT; Trường THPT chuyên Lam Sơn; HC Độc lập Hạng Ba: Trường THPT Lương Đắc Bằng; Trường THPT Ba Đình, Trường THPT Hà Trung); Nhiều trường được tặng Huân chương Lao động Hạng Nhất, HCLĐ Hạng Nhì, HCLĐ Hạng Ba; hàng chục lượt trường học được tặng Cờ thi đua Chính phủ...

- 02 Nhà giáo được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động; 6 Nhà giáo được phong tặng danh hiệu NGND; 131 Nhà giáo được phong tặng danh hiệu NGƯT; nhiều nhà giáo được phong tặng danh hiệu CSTĐ toàn quốc; chiến sĩ thi đua cấp tỉnh.

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết