Monday, 17/06/2019 - 18:00|
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA - Điện thoại: 02373.852328
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Học tập suốt Ðời và xây dựng xã hội học tập Ðáp ứng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ iv (4.0)

HỌC TẬP SUỐT ĐỜI VÀ XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP ĐÁP ỨNG CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ IV (4.0)

 

 

                                                                                      Nguyễn Đình Bưu

 

          Nhân loại đã tiến hành 3 cuộc cách  mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với đột phá bằng việc sử dụng năng lượng hơi nước, khởi đầu bằng động cơ hơi nước. Nhờ động cơ hơi nước mà con người đã từng bước thay thế lao động cơ bắp, sức kéo của động vật... bằng cơ giới hóa trong nhiều hoạt động, như: Vận tải (tàu hỏa và tàu thủy chạy bằng hơi nước), cơ giới hóa ngành dệt vv.

          Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai khởi đầu bằng sử dụng năng lượng do đốt cháy xăng, dầu và đánh dấu bằng phát minh ra động cơ đốt trong (sử dụng xăng, diezen...) thay thế cho năng lượng hơi nước. Sau đó là phát minh ra máy phát điện và động cơ điện cùng với dây truyền lắp ráp và sản xuất hàng loạt các thiết bị công nghệ ... với rất nhiều ứng dụng trong công nghiệp và đời sống như: Ô tô, tàu hỏa, tàu thủy... chạy bằng xăng, dầu diezen và máy bay, máy công nghiệp vv. Từ đó loài người đã điện khí hóa và hiện đại hóa các ngành công nghiệp và trong đời sống; là một bước tiến rất xa của nhân loại so với trước đây. Nhờ vậy mà năng suất lao động tăng rất nhanh, cuộc sống ngày càng văn minh hơn.

          Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba tiến hành vào giữa thế kỷ thứ XIX, bắt đầu bằng công nghệ thông tin và tự động hóa quá trình sản xuất dựa trên hệ thống quản lý máy tính với phát minh ra chất bán dẫn, máy tính cá nhân, siêu máy tính và Internet. Từ đó con người đã tự động hóa một số khâu, một số ngành sản xuất giúp cho loài người có bước phát triển vượt bậc.

          Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) bắt đầu từ các thành tựu của trí tuệ nhân tạo (AL), điện toán đám mây, kết nối Internet (IoT), số hóa và tự động hóa, điều khiển từ xa, máy in 3D vv đã xóa danh giới giữa các lĩnh vực vật lý, sinh học.

          Nét chung nhất của tất cả các cuộc cách mạng công nghiệp là đều đòi hỏi phải nâng cao trình độ dân trí để tiếp nhận và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật đồng thời phải đào tạo nguồn nhân lực đủ các mức độ, trình độ để vận hành và tiếp tục sáng tạo, phát minh... Vì vậy cũng đòi hỏi phát triển nhanh chóng các cơ sở đào tạo và cải cách giáo dục. Nếu không nắm bắt nhanh sự phát triển đột phá và nhảy vọt của công nghệ cùng với xây dựng chiến lược phát triển, hoạch định bước đi, quyết tâm chính trị của nhà nước thì sẽ tụt hậu trong một thế giới phát triển nhanh chóng và sẽ thua kém các nước ngày càng xa hơn.

          Các cuộc cách mạng công nghiệp đều mở ra cơ hội phát triển cho từng cá nhân, tổ chức và mỗi đất nước cũng như cả nhân loại. Nước Anh đã rất nhạy bén nắm bắt cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất nên đã sớm trở thành một nước giàu mạnh nhất thế giới của thế kỷ XVII, XVIII. Nước Mỹ tuy hình thành muộn hơn nhưng nhờ nắm bắt nhanh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 và lần thứ ba cùng với chính sách thu hút các tài năng, nhất là các nhà khoa học và phát triển mạnh mẽ giáo dục nên đã trở thành một nước giàu có nhất thế giới và một đế quốc hùng cường vv.

          Những nước nhỏ như Singapo, Israel... tuy mới hình thành, tuy dân số và diện tích nhỏ bé nhưng nhờ nắm bắt nhanh các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp cùng với sự ưu việt của thành công trong phát triển giáo dục, xây dựng một quốc gia khởi nghiệp và tăng cường quản trị, quản lý đất nước nên đều là những nước phát triển nhanh, mạnh và bền vững vào loại hàng đầu thế giới...

          Với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ IV (4.0), Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức:

          Một là: Công nghệ ta đang sử dụng phần lớn đều lạc hậu so với thế giới nên quy mô sản xuất nhỏ, chất lượng sản phẩm chưa cao, tiêu tốn năng lượng, nguyên liệu lớn, hiệu quả và năng suất lao động thấp... Nay tiếp nhận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nếu không nắm bắt nhanh các công nghệ mới thì rất dễ trở thành bãi thải công nghệ cũ của các nước phát triển do họ thay đổi công nghệ mới tràn vào, nhất là lại tham giá rẻ, đầu tư ít hơn. Như vậy thì lại càng chậm chân hơn, tụt hậu xa hơn. Thời đại ngày nay không hẳn là "cá lớn nuốt cá bé" mà là "công nghệ mới nuốt công nghệ cũ", là "nhanh thắng chậm" là "nhạy bén, đổi mới, sáng tạo thắng bảo thủ, trì trệ" vv.

          Hai là: Nguồn nhân lực có trình độ, năng lực cao để tiếp cận nhanh các công nghệ mới sẽ là yếu tố hàng đầu trong việc tạo ra sản phẩm giá rẻ hơn, mẫu mã đẹp hơn, tiện dụng hơn và chất lượng hơn nhưng chất lượng giáo dục và đào tạo của ta còn thấp, nhất là đại học và đào tạo nghề... Đã đến lúc ưu thế lao động đông, nhân công giá rẻ không còn là lợi thế nữa. Công nghiệp 4.0 sẽ sử dụng trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và kết nối với điều khiển từ xa thay thế hàng loạt lao động giản đơn hoặc tay nghề thấp trong nhiều ngành công nghiệp... Do đó nếu không kịp thời đào tạo nguồn nhân lực theo hướng mới thì sẽ dẫn đến phá vỡ cơ cấu và kết cấu của hệ thống nhân lực lao động...

          Không nên nghĩ rằng chỉ cần đào tạo nhân lực cho một số ngành sản suất tự động hóa mà phải đào tạo và đào tạo lại tất cả nguồn lực lao động cũng như nâng cao dân trí của toàn xã hội theo yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0...

          Chẳng hạn, trong nông nghiệp và lâm nghiệp phải nhanh chóng đưa công nghệ cao vào sản xuất để có quy mô sản xuất lớn, chất lượng sản phẩm tốt và an toàn gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Sử dụng những công nghệ cao như: Công nghệ theo dõi độ ẩm, dinh dưỡng, sâu bệnh... đến từng cây trồng, từng thửa ruộng bằng hệ thống tích hợp điều khiển tự động hoặc điều khiển từ xa, kết nối qua máy chủ hoặc internet vv như vậy thì người nông dân phải học... Trong đời sống người ta sử dụng các thiết bị thông minh, kết nối các thiết bị trong gia đình với hệ thống điều khiển từ xa qua internet rất hiện đại và rất tiện dụng thì người dân phải học và phải biết sử dụng vv.

          Ba là: Hoạch định chiến lược ứng dụng và phát triển công nghiệp 4.0 ở toàn bộ nền kinh tế cũng như toàn xã hội với bước đi hợp lý, chính sách đột phá gắn với chiến lược đào tạo nhân lực và cải cách giáo dục. Đi đôi với chiến lược ở tầm vĩ mô, tất cả các ngành nhất là từng ngành kinh tế và từng doanh nghiệp đều phải có chiến lược riêng, hoạch định bước đi phù hợp, cơ chế chính sách hợp lý. Các cơ quan quản lý nhà nước nhất thiết không để các doanh nghiệp nhập công nghệ, thiết bị lạc hậu từ các nước phát triển đang trong quá trình đổi mới công nghệ. Các doanh nghiệp phải nhanh chóng nắm bắt nhu cầu, thị hiếu của thị trường, yêu cầu về mẫu mã, chất lượng, thời gian ngắn nhất đưa sản phẩm ra thị trường để tạo lợi thế cạnh tranh... Từ đó mà sáng tạo và tổ chức sản xuất cho phù hợp.

          Tuy nhiên, ở nước ta để nắm bắt và triển khai cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 chỉ mới bắt đầu từ ý tưởng, một số phát biểu của lãnh đạo Đảng, nhà nước và ở một số ít bộ, ngành chứ chưa trở thành chủ trương chiến lược có cơ sở pháp lý đầy đủ (Nghị quyết của Đảng, Luật, Nghị định của Chính phủ, hướng dẫn của các Bộ, ngành, vv). Thậm chí mới còn ở trong suy nghĩ, chưa thật sự đưa vào cuộc sống, đưa vào tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Nhiều người mới nghe cho biết có cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 chứ chưa hiểu rõ bản chất và chưa biết phải làm gì?

          Khối lượng trí thức của loài người ngày nay phát triển rất nhanh chóng nên không một chương trình giáo dục, đào tạo nào có thể chuyển tải được hết trí thức của nhân loại. Do đó trong cuộc cải cách giáo dục lần này, cấu trúc chương trình của hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học cần xây dựng theo hướng chỉ bao gồm những tri thức rất cơ bản kết hợp với cập nhật các thành tựu khoa học công nghệ mới cho phù hợp với xu thế thời đại, nhất là thời đại đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

          Cải cách giáo dục chỉ có thể thành công khi cuộc cải cách giáo dục đó thực hiện phương châm "học tập suốt đời" gắn với xây dựng "một xã hội học tập". Cấu trúc chương trình, nội dung kiến thức ở cấp phổ thông cũng như đại học chỉ nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản ban đầu, tối quan trọng và rất cần thiết. Còn trong cuộc sống, lao động, công tác và nghiên cứu khoa học nếu còn thiếu và cần bổ sung tri thức, kỹ năng nào thì tiếp tục học, học thường xuyên, học suốt đời, kể cả khi đã nghỉ hưu, khi đã già. Do đó phải chấm dứt quan niệm chỉ cần đào tạo và học một lần là đủ để làm việc suốt đời mà thay bằng quan niệm đúng đắn là phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời để bổ sung những trí thức hoặc kỹ năng còn thiếu.

          Có như vậy chương trình giáo dục mới không tham lam và quá tải, mới rút ngắn được thời gian ngồi quá dài trên ghế nhà trường, không cần thiết và rất lãng phí. Nếu vẫn tiếp tục theo tư duy cũ thì cuộc cải cách giáo dục lần này, nói hẹp hơn là thay đổi chương trình và sách giáo khoa sẽ chắc chắn lại thất bại, thậm chí là thất bại thảm hại. Ở ta, các cơ quan quản lý giáo dục vẫn chưa thực sự nhận rõ vấn đề này nên mỗi lần cải cách giáo dục là mỗi lần thay đổi chương trình, nội dung giáo dục, viết lại sách giáo khoa thì lần sau khối lượng tri thức lại nặng nề hơn lần trước. Sau đó lại loay hoay giảm tải nhưng không giảm tải được vì những người chỉ đạo giảm tải và người biên soạn sách giáo khoa vẫn không thoát ra khỏi tư duy cũ mà không xuất phát từ phương châm phải học tập suốt đời.

          Cũng vì chưa coi trọng việc học tập suốt đời nên Bộ Giáo dục cũng như các cơ quan quản lý giáo dục chưa thật sự coi trọng chăm lo tổ chức học tập cho người lớn, bao gồm từ chủ trương, cơ chế, chính sách, nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, biên soạn chương trình, tài liệu và đào tạo giáo viên vv để hình thành một thiết chế giáo dục như giáo dục chính quy. Đây cũng là bước đi chậm trễ của giáo dục nước ta so với giáo dục thế giới.

          Không có hệ thống giáo dục cho người lớn thì hệ thống giáo dục đó chưa hoàn chỉnh, là què quặt, chỉ có một chân (giáo dục chính quy), hoặc nếu có chân thứ 2 (giáo dục người lớn) thì cũng bị teo cơ, cụt xương vv.

          Không coi trọng giáo dục người lớn thì những yêu cầu bổ sung kiến thức, kỹ năng thiếu hụt là yêu cầu rất cấp bách của cuộc sống và kinh tế thì ai lo, ai chịu trách nhiệm? Do cấu trúc của hệ thống giáo dục què quặt như vậy nên ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp tục đào tạo, đào tạo liên tục, đào tạo thường xuyên để nâng cao trình độ, năng lực của lực lượng lao động quốc gia dẫn đến năng suất, hiệu quả ngày càng tụt hậu. Nói cách khác nếu không chăm lo tổ chức học tập cho người lớn thì không có việc học suốt đời và cũng không có việc xây dựng xã hội học tập.

          Tất nhiên việc tổ chức học tập suốt đời cho người lớn không cứ nhất thiết phải đến trường, đến lớp mà là tổ chức những hình thức học rất đa dạng, linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của các nhóm đối tượng. Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống truyền thông, internet, vi tính, hệ thống xuất bản và in... việc học tập của người lớn thuận lợi hơn trước đây rất nhiều. Miễn là có một cơ quan chuyên trách lo việc này cùng với đề cao việc tự học của mỗi cá nhân và lấy tự giác, tự học của mỗi người làm phương châm cơ bản...

          Từ xu thế thời đại như vậy công tác khuyến học cũng cần phải bắt kịp và đổi mới cho phù hợp. Cần xác định 2 nhiệm vụ cơ bản nhất của Khuyến học là Hỗ trợ giáo dục nhà trường (Giáo dục chính quy) và chăm lo khuyến khích, hỗ trợ đắc lực giáo dục người lớn (giáo dục suốt đời). Trong đó, việc khuyến khích và hỗ trợ giáo dục người lớn là chủ yếu. Vì giáo dục chính quy đã có ngành giáo dục chịu trách nhiệm chính còn Hội Khuyến học chỉ hỗ trợ thêm theo những nội dung cụ thể, nhất là những việc mà ngành giáo dục cần xã hội hóa, những việc mà ngành giáo dục ít có khả năng hoặc không có điều kiện và khả năng thực hiện. Như: Vận động học sinh đến lớp, giúp đỡ và vận động để ngăn chặn học sinh có nguy cơ bỏ học và vận động học sinh đã bỏ học trở lại lớp; tổ chức quản lý học sinh tự học và giáo dục học sinh ở khu dân cư (tiếng trống Khuyến học, tổ chức các hoạt động xã hội, tổ chức thăm quan, hoạt động văn nghệ, thể thao...); vận động quỹ khuyến học để giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, học sinh vùng khó, trao thưởng cho giáo viên và học sinh giỏi; vận động ủng hộ xây dựng cơ sở vật chất các trường học vv.

          Còn giáo dục cho người lớn có liên quan đến đông đảo và đa dạng đối tượng tham gia, lại cần có sự tuyên truyền và vận động, thuyết phục đến các đối tượng học; cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng và các cấp chính quyền; cần có sự phối kết hợp của các ban, ngành, đoàn thể... nên nếu để một mình ngành giáo dục là không thể làm nổi. Vì vậy rất cần vai trò nòng cốt của Hội Khuyến học và cũng là thế mạnh và kinh nghiệm của Hội Khuyến học các cấp đã tích lũy được trong hơn 20 năm hoạt động vừa qua; nhất là củng cố và tổ chức hoạt động các Trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn thật sự năng động và hiệu quả.

 

                                              Địa chỉ:      Nguyễn Đình Bưu             

                                       Hội Khuyến học tỉnh Thanh Hóa, Tầng 3,

 tòa nhà Hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh,

 đường Lý Nam Đế, Khu đô thị mới Bình Minh,

phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa.

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết