Monday, 17/05/2021 - 19:12|
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA - Điện thoại: 02373.852328
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tập trung triển khai thực hiện các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng giáo dục Thanh Hoá giai đoạn 2021-2025

NGƯT, PGS, TS. Trần Văn Thức

                                                      Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo

           Dù trong bất kì thời đại nào, giáo dục luôn được coi là động lực phát triển của đất nước - “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” (Thân Nhân Trung). Đặc biệt, trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, tri thức là chìa khóa để mở cánh cửa hội nhập thế giới, vì thế, hơn bao giờ hết, vai trò, vị thế của ngành giáo dục và đào tạo càng được coi trọng. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục và đào tạo là: “Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo”.

NGƯT,PGS,TS. Trần Văn Thức - Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo phát biểu tại Hội nghị công bố Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh về công tác cán bộ (Tháng 10/2020).

Giáo dục Thanh Hóa đến năm 2020, qui mô trường, lớp học cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Chất lượng giáo dục đã có nhiều chuyển biến tiến bộ: kết quả phổ cập giáo dục (PCGD) tiểu học, PCGD mầm non trẻ em 5 tuổi, PCGD THCS được nâng lên rõ rệt. Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020, có 97,64% thí sinh dự thi đỗ tốt nghiệp với điểm bình quân là 6,06 điểm, tăng 0,96 điểm so với năm 2019. Năm học 2020 - 2021, Thanh Hóa có 56/76 học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia (73,68%) với 6 giải Nhất (xếp thứ 5 toàn quốc), 24 giải Nhì, 17 giải Ba, 9 giải Khuyến khích. Chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục có chuyển biến tích cực với tỷ lệ đạt chuẩn là 99,97%, trong đó trên chuẩn đạt 76,1%. Toàn tỉnh có 1.525 trường đạt chuẩn quốc gia (đạt 75,9%) và tỷ lệ phòng học kiên cố là 87,7%. Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa cũng đã có nhiều đổi mới trong công tác chỉ đạo thi, kiểm tra, đánh giá năng lực người học và đội ngũ nhà giáo. Đây là những tiền đề quan trọng để thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục tỉnh nhà, đáp ứng bối cảnh đất nước và quốc tế.

Dù đã đạt được nhiều kết quả khả quan, tuy nhiên, quá trình thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh vẫn còn những bất cập. Đó là chất lượng giáo dục chưa đồng đều ở các vùng, miền; chất lượng giáo dục đại trà còn thấp so với các địa phương có điều kiện tương đồng; chất lượng giáo dục mũi nhọn chưa ổn định; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở một số trường học còn khó khăn; tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ chưa được khắc phục triệt để... Điều đó đã đặt ra yêu cầu cho ngành Giáo dục Thanh Hóa phải sớm tìm giải pháp khắc phục, đưa sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển toàn diện, vững chắc.

Trước tình hình trên, để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giữ vững thành tích giáo dục mũi nhọn trong nhóm dẫn đầu cả nước. Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, công tác quản lý giáo dục, coi trọng quản lý chất lượng. Tiếp tục sắp xếp mạng lưới trường học; rà soát, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển giáo dục”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025, ngành Giáo dục Thanh Hóa đã và đang phát huy lợi thế, khắc phục khó khăn, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ nhằm nâng cao chất lượng, tạo bước chuyển biến đột phá trong giáo dục, đào tạo với các giải pháp chủ yếu sau:

1. Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý trong giáo dục và quản trị nhà trường, coi trọng quản lý chất lượng, hiệu quả quản trị nhà trường, gắn trách nhiệm quản lý chuyên môn với quản trị nhân sự và tài chính. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong các cơ sở giáo dục. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, quản trị nhà trường. Triển khai hiệu quả hệ thống quản lý - quản trị giáo dục trực tuyến trong việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới.

2. Tiếp tục rà soát, sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, bảo đảm nguyên tắc tạo thuận lợi cho việc học tập của học sinh gắn với các điều kiện bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục; khắc phục tình trạng các điểm trường lẻ, trường học có quy mô nhỏ, chưa đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng giáo dục chưa cao.

3. Tích cực bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục theo chuẩn nghề nghiệp do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, bảo đảm thực chất, gắn với thi đua, khen thưởng để tạo động lực cho đội ngũ nhà giáo gắn bó với nghề; rà soát biên chế, tuyển dụng giáo viên, bảo đảm số lượng và chất lượng đội ngũ đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Tăng cường chỉ đạo, các đơn vị, trường học tích cực tổ chức sinh hoạt chuyên môn, đặc biệt sinh hoạt chuyên môn cụm trường, liên trường để tập huấn, triển khai các nội dung bồi dưỡng giáo viên phổ thông, cán bộ quản lí các cơ sở giáo dục phổ thông cốt cán và đại trà, đảm bảo tiến độ, hiệu quả trong thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

4. Thực hiện đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, gắn với lộ trình thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018. Tập trung tham mưu đổi mới trong tổ chức kỳ thi học sinh giỏi tỉnh cấp THPT, kỳ thi chọn đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia nhằm giảm áp lực cho học sinh và tạo động lực nâng cao chất lượng giáo dục đại trà cấp THPT trên địa bàn tỉnh; đổi mới nội dung thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT theo hướng tăng số môn thi từ 3 môn lên 4 môn, nhằm từng bước khắc phục tình trạng dạy lệch, học lệch, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

5. Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, duy trì và nâng cao chất lượng PCGD mầm non cho trẻ em 5 tuổi, chuẩn bị cho trẻ em 5 tuổi sẵn sàng vào học lớp 1. Tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng PCGD tiểu học; PCGD trung học cơ sở, tập trung triển khai các giải pháp để huy động học sinh ra lớp, khắc phục hiện tượng học sinh ngồi sai lớp, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém và học sinh bỏ học giữa chừng, duy trì bền vững kết quả đã đạt được, tiến tới đạt PCGD THCS mức độ 2 vào năm học 2021- 2022.

Đ/c Trịnh Vĩnh Long, Trưởng phòng GDTH, Sở Giáo dục và Đào tạo thăm lớp học của Trường TH Tây Tiến, huyện Mường Lát

6. Giao chỉ tiêu, giám sát chất lượng đầu ra, cải thiện chỉ số về chất lượng mũi nhọn, đại trà ở các cấp học; tăng cường các biện pháp quản lý chất lượng; thường xuyên giám định chất lượng và thanh tra, kiểm tra theo các tiêu chí đảm bảo chất lượng giáo dục; minh bạch hoá, công khai hoá kết quả; chống tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục. Tập trung xây dựng và phát triển trường THPT chuyên Lam Sơn thành trường trọng điểm chất lượng cao khu vực Bắc Miền Trung. Nhà trường có chương trình giáo dục mang tính đặc thù, có cơ sở vật chất, cơ sở học liệu, thiết bị dạy học hiện đại, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đáp ứng yêu cầu nhằm tạo ra sự đột phá về chất lượng giáo dục toàn diện và giữ vững chất lượng giáo dục mũi nhọn trong tốp dẫn đầu cả nước; là địa chỉ tin cậy để thu hút ngày càng nhiều học sinh giỏi trong tỉnh và khu vực về học tập và rèn luyện. Khuyến khích các trường THPT không chuyên có điều kiện về đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên, cơ sở vật chất hiện đại thực hiện những mục tiêu, giải pháp như trường THPT chuyên; khuyến khích các trường THCS tích cực bồi dưỡng học sinh giỏi, tạo nguồn học sinh cho trường THPT chuyên Lam Sơn.

7. Thực hiện hiệu quả công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động giáo dục và trải nghiệm; thực hiện hiệu quả công tác tư vấn tâm lý, công tác xã hội cho học sinh phổ thông; rà soát, tích hợp nội dung giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh vào các môn học chính khóa; xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và địa phương trong quản lý, giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh; tăng cường an ninh, an toàn trường học và các giải pháp phòng, chống bạo lực học đường.

8. Tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên ngoại ngữ, bảo đảm cơ cấu, số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học ngoại ngữ theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Tiếp tục đổi mới phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá năng lực ngoại ngữ của học sinh, bảo đảm việc đánh giá được thực hiện chính xác, công bằng, tin cậy. Bổ sung trang thiết bị thiết yếu, học liệu cơ bản đáp ứng yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học ngoại ngữ; tiếp tục xây dựng và triển khai thí điểm hệ thống hỗ trợ dạy học tiếng Anh trực tuyến và trên máy tính cho học sinh.

9. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý giáo dục, thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục. Triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025 theo Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ; tiếp tục hoàn thiện và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu ngành về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên; triển khai kết nối liên thông dữ liệu, tích hợp cơ sở dữ liệu ngành vào cơ sở dữ liệu quốc gia. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, kiểm tra, đánh giá và quản lý giáo dục, quản trị nhà trường; đẩy mạnh dạy học trực tuyến; phát triển kho học liệu số toàn ngành. Triển khai hiệu quả hệ thống quản lý học tập qua mạng, để bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục phổ thông đại trà, thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới theo phương thức bồi dưỡng thường xuyên, liên tục ngay tại nhà trường.

10. Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để thực hiện chương trình, sách giáo khoa theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, nhất là đối với lớp 1 từ năm học 2020 - 2021; rà soát nhu cầu và có kế hoạch bổ sung đủ thiết bị dạy học tối thiểu đối với lớp 2, lớp 6 từ năm 2021-2022. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án bảo đảm cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2017 - 2025; tiếp tục thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp học, đầu tư xây dựng phòng học để thay thế các phòng học tạm thời, phòng học bán kiên cố đã hết niên hạn sử dụng, phòng học nhờ, mượn, thuê. Đẩy mạnh việc xây dựng các trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Thực hiện rà soát, đề xuất các nội dung đầu tư tăng cường cơ sở vật chất trường học, các hạng mục, địa bàn ưu tiên đầu tư, mua sắm bổ sung thiết bị dạy học để đưa vào kế hoạch giai đoạn 2021 - 2025; hoàn thành các mục tiêu của chương trình mục tiêu giáo dục vùng núi, vùng dân tộc thiểu số và vùng khó khăn, chương trình kiên cố hóa trường lớp học, chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030.

Để thực hiện được các giải pháp trên một cách đồng bộ và toàn diện, bên cạnh việc phối hợp với các ban, ngành liên quan nhằm tham mưu điều chỉnh, bổ sung các đề án, kế hoạch và quy hoạch phát triển giáo dục, đào tạo phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới, hơn bao giờ hết, ngành giáo dục xứ Thanh cần sự chung sức, đồng lòng của toàn ngành và toàn xã hội. Đó là sức mạnh từ sự ủng hộ mạnh mẽ về tinh thần của xã hội đối với công cuộc đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học, sức mạnh từ công cuộc xã hội hóa giáo dục, sự đầu tư về cơ sở vật chất, sự tham gia hỗ trợ các hoạt động trong các cơ sở giáo dục của nhân dân. Đó là sức mạnh từ khối đại đoàn kết của mỗi nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục xứ Thanh, từ trí tuệ, tâm huyết của các thầy, các cô trong sự nghiệp trồng người. Đó là sức mạnh từ những nỗ lực của mỗi học sinh vươn lên trong hành trình khám phá tri thức để lập thân, lập nghiệp trong tương lai. Tổng hợp nguồn sức mạnh đó chính là động lực để giáo dục xứ Thanh phát triển bền vững, xứng danh là vùng đất hiếu học và khoa bảng trong lịch sử nước nhà.

 


Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết